Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thấy gì sau hơn một năm thực hành Nghị định 24 ?.

NHNN đã kiên tâm thực hiện lộ trình chấm dứt hoạt động huy động, cho vay vốn bằng vàng, qua đó giảm mạnh tâm lý nắm giữ, đầu cơ vàng, ngăn ngừa rủi ro cho các TCTD chuẩn y ban hành và thực hành các qui định tại Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010, Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 và Thông tư số 12/2012/TT-NHNN ngày 27/4/2012

Thấy gì sau hơn một năm thực hiện Nghị định 24 ?

Như vậy, chúng ta có thể làm rõ được những vấn đề hiện giờ liên tưởng đến vai trò trách nhiệm của NHNN trên thị trường vàng quốc tế và thị trường vàng miếng trong nước, giải tỏa được mối lo ngại về dự trữ ngoại hối, đồng thời, tạo điều kiện chuẩn bị cho bước đi tiếp theo can dự đến thị trường vàng không phải là vàng miếng như vàng trang sức, mỹ nghệ,… cũng như cơ chế chính sách đối với sản xuất kinh doanh và xuất du nhập nhóm sản phẩm vàng này.

So với trước khi thực hiện Nghị định 24, thị trường vàng miếng trong nước đã có nhiều thay đổi căn bản theo hướng hăng hái, ổn định hơn hẳn cả về cân đối cung cầu và giá cả, thiết lập lại thứ tự trên thị trường vàng miếng, từ khâu nhập cảng vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng đến hệ thống bán lẻ và bán lẻ vàng miếng đáp ứng các nhu cầu đa dạng về vàng miếng, song song, duyệt y đó chủ động xử lý các mối quan hệ giữa thị trường vàng miếng với thị trường ngoại hối, giữa cán cân tính sổ với dự trữ ngoại hối, giữa chính sách quản lý và dùng vàng miếng với chính sách tiền tệ tín dụng, giữa tuân thủ qui luật thị trường và sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường vàng miếng.

Thứ ba, NHNN cũng không đóng vai trò kinh dinh vàng trên thị trường thế giới mà chỉ thực hiện xuất nhập cảng hay mua bán vàng trên thị trường thế giới để duy trì cân bằng cung cầu với giá theo thị trường thế giới cho thị trường vàng miếng trong nước nên việc NHNN mở tài khoản vàng ở nước ngoài phục vụ thực hiện nhiệm vụ như nêu trong Nghị định 24 là cấp thiết và thích hợp với thông lệ giao dịch vàng trên thị trường thế giới.

Đến lượt mình, việc nhập vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng vững chắc tác động đến cung cầu ngoại tệ (đốn là USD) theo đó tác động tới tỷ giá hối đoái và trái lại việc NHNN bán vàng trên thị trường thế giới cũng tác động rưa rứa đến thị trường ngoại hối trong nước nhưng chưa rõ nguyên tắc xử lý vấn đề này.

Tuy nhiên, để tránh những lo ngại chính đáng về tác động tiêu cực có thể có của việc du nhập vàng tới qui mô và cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc gia nên có những qui định rõ hơn về xử lý mối quan hệ giữa ngoại tệ - vàng - đồng Việt Nam, cả quan hệ cung cầu lẫn giá cả khi NHNN sẽ thu được nội tệ từ bán vàng miếng nhưng lại phải sử dụng ngoại tệ để mua nguyên liệu sản xuất vàng miếng.

Hơn nữa, cơ chế mới theo Nghị định 24 còn vừa căn bản khắc phục được tình trạng đầu cơ trên thị trường vàng, vừa chuyển được lợi nhuận từ chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới (nếu có) về tay Nhà nước, song song kết thúc cơ chế xin - cho và lạm dụng biến độc quyền quốc gia thành độc quyền doanh nghiệp trên thị trường vàng miếng.

Nguồn dự trữ ngoại hối tương đối dồi dào và đang tăng lên, tỷ giá hối đoái cơ bản ổn định, tính thanh khoản ngoại tệ của các TCTD được đảm bảo khi cho vay bằng ngoại tệ không những không tăng mà còn giảm mạnh trong thời kì qua vừa là điều kiện, cơ sở và căn cứ kiên cố vừa là hệ quả thế tất của việc NHNN độc quyền nhập khẩu vàng nguyên liệu.

Thứ hai, quá trình thực hiện Nghị định 24 đã quán triệt ý kiến NHNN không và sẽ không kinh dinh vàng miếng trên cả thị trường trong nước cũng như quốc tế, theo đó càng không có chuyện NHNN độc quyền kinh doanh vàng miếng mà NHNN chỉ độc quyền sản xuất vàng miếng tương tự như độc quyền không thể bàn cãi trong việc in tiền và cung tiền của NHNN.

Chính sách quản lý thị trường vàng vẫn cần đấu bổ sung và hoàn thiện, song không phải là quay trở lại như trước khi có Nghị định 24 mà là theo hướng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa chính sách quản lý ngoại hối và vàng với chính sách tiền tệ tín dụng nhằm củng cố, lành mạnh hóa hệ thống tài chính nhà nước, phát triển hệ thống thị trường tài chính lành mạnh, có tổ chức; song song hướng các nguồn lực kinh tế tài chính giao hội vào phát triển kinh tế xã hội.

NHNN đối xử với biến động giá vàng trên thị trường thế giới rưa rứa như đối với tỷ giá hối đoái của một đồng tiền tự do chuyển đổi nhất. Theo đó, NHNN độc quyền sản xuất vàng miếng và quyền cấp giấy phép cũng như rà kiểm soát hoạt động kinh dinh vàng miếng trên toàn bờ cõi Việt Nam.

Tới đây, các qui định về phương án, cách thức, qui trình mua bán vàng miếng cần cụ thể và có tính pháp qui cao hơn, đồng thời coi xét bổ sung phương thức giao tiếp vàng account cho các cá nhân và tổ chức được phép kinh dinh vàng miếng vừa nhằm hạn chế bớt giao tế vàng miếng vật chất vừa hợp chủ trương chống “vàng hóa”, tăng cường tính sổ không dùng tiền mặt, vừa chuẩn bị cho các bước đi tiếp theo liên quan đến huy động và dùng nguồn lực vàng trong từng lớp.

Sự ra đời của văn bản này, theo đó ban hành các văn bản hướng dẫn có hệ trọng là cần thiết và việc áp dụng các qui định trong Nghị định 24 đã, đang và sẽ góp phần hăng hái vào ổn định thị trường vàng trong nước, đồng thời triển khai thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước với thị trường vàng thế giới, thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới, để giá vàng trong nước biện động sát hơn với giá vàng thế giới, duy trì cân đối cung cầu đối với loại hàng hóa đặc biệt là vàng trong khi bền chí chủ trương chống “vàng hóa” và đầu cơ trục lợi trên thị trường vàng.

Cơ chế đấu thầu vàng miếng đã vận hành tường qua 59 phiên đấu thầu (từ ngày 28/3/2013 đến 17/9/2013) với tổng khối lượng khoảng 58,38 tấn, trong đó có gần 30 tấn được các TCTD dùng để tất toán số dư huy động vốn bằng vàng.

Vũ Đình Ánh. So với cơ chế NHNN cấp quota nhập cảng vàng cho các doanh nghiệp được phép nhập khẩu trước đây thì cơ chế mới đã trả lại cho Chính phủ, mà đại diện trực tiếp là NHNN quyền chủ động trong quản lý giám sát cân đối cung cầu, diễn biến giá cả cũng như cân đối nguồn ngoại tệ cho nhập cảng vàng nguyên liệu.

TS. Nói cách khác, sự dự của NHNN vào thị trường vàng miếng cả với nhân cách người bán “đầu tiên” cũng như người mua “cuối cùng” đều theo nguyên tắc thị trường với khẳng định NHNN luôn sẵn sàng bán ra và mua vào vàng miếng với mức giá thị trường thế giới cùng với một biên độ nhất mực để bù đắp uổng giao thiệp, dự phòng rủi ro. Theo tôi, cần bổ sung cụ thể các qui định can dự đến xử lý mối quan hệ giữa ngoại tệ - vàng - đồng Việt Nam theo quan điểm thay vì xử lý mối quan hệ tay ba rất phức tạp đó bằng xử lý mối quan hệ tay đôi giữa một bên là ngoại tệ và vàng với một bên là nội tệ.

Việc đưa vàng vào dự trữ ngoại hối sẽ kéo theo đổi thay tấm về qui định quản lý ngoại hối nói chung và quản lý quĩ dự trữ ngoại hối nhà nước nói riêng.

Thứ năm, thành công trong quản lý thị trường vàng miếng theo Nghị định 24 không thể tách rời bước đi đồng bộ và cương quyết trong chính sách chống “vàng hóa” nền kinh tế. Bên cạnh đó, cũng cần có qui định rõ ràng về lượng vàng miếng dự trữ lưu thông và mối quan hệ giữa dự trữ vàng quốc gia với dự trữ ngoại hối nhà nước. Hơn ai hết, NHNN nắm chắc quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, trạng thái ngoại tệ và vàng của các TCTD, qua đó chủ động xử lý mối quan hệ giữa chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách quản lý ngoại hối với chính sách quản lý thị trường vàng miếng.

Trên ý kiến không đề nghị can thiệp để bình ổn giá vàng vì vàng miếng không thuộc nhóm cần bình ổn giá và bình ổn giá là không cần thiết nên hoạt động cung vàng miếng của NHNN chỉ nhằm thu hẹp tới mức thấp nhất chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá thế giới cũng như biến động giá vàng trong nước hòa nhịp với thế giới phê duyệt bảo đảm cân đối cung cầu và qui định giá bán “khởi điểm” đi đôi với kiểm soát giá bán của màng lưới kinh dinh vàng miếng nằm dưới sự quản lý của NHNN để chống đầu cơ lũng đoạn thị trường.

Rõ ràng, sau hơn một năm thực hiện Nghị định 24, thiết chế quản lý và kinh dinh trên thị trường vàng miếng đã được căn bản hoàn thiện và vận hành thông, một mặt đã lập lại trật tự trên thị trường vàng vốn rất khó kiểm soát và nhiều biến động trước đây, mặt khác đã cụ thể hóa và dùng dụng cụ quản lý, can thiệp của Nhà nước vào thị trường vàng một cách hữu hiệu, hợp lý và hiệu quả.

Theo đó, hạch toán chi phí của NHNN hệ trọng đến sinh sản, giao thiệp lưu thông vàng miếng dựa trên nguyên tắc phi lợi nhuận nên hạch toán vào tổn phí nghiệp vụ của NHNN là hợp lý. Thứ tư, theo Nghị định 24, nguồn ngoại tệ được dùng để nhập cảng vàng được lấy từ dự trữ ngoại hối nên NHNN đã chủ động hơn trong cân đối cung cầu ngoại tệ của nhà nước thay vì thụ động như trước đây khi đáp ứng đề nghị về ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập cảng vàng có phép hay đối phó với biến động trên thị trường ngoại tệ tự do dưới áp lực của nhu cầu ngoại tệ cho du nhập vàng cả có phép và không có phép.

Bên cạnh đó, các khoản thu được từ hoạt động tổ chức đấu thầu vàng đều được xử lý theo qui chế tài chính đối với NHNN nhằm đảm bảo mọi ích lợi có được từ độc quyền Nhà nước phải thuộc về quốc gia. Để củng cố những thành quả đã đạt được và tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách đối với thị trường vàng miếng những năm tới, tôi cho rằng cần tụ hội vào một số trọng điểm sau: Thứ nhất, việc khẳng định NHNN đóng vai trò bán buôn trên thị trường vàng ưng chuẩn tổ chức đấu thầu là thích hợp với nguyên tắc NHNN độc quyền sinh sản vàng miếng SJC thay vì tồn tại tới 8 thương hiệu vàng miếng như trước đây, song song NHNN độc quyền nhập cảng vàng nguyên liệu, do đó nguồn cung vàng miếng duy nhất là NHNN, theo đó, quyền quyết định lượng cung, thời khắc cung (bán vàng miếng) và giá bán thuộc về NHNN là hợp lý.

Bên cạnh đó, để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng, NHNN giám sát chặt chịa việc các TCTD tuân thủ quy định không được giữ thể vàng vượt quá 2% so với vốn tự có và không được duy trì thể âm vàng. Hơn nữa, việc NHNN mua bán vàng miếng với qui mô có khả năng còn rất lớn sẽ tác động tới cung VND, ảnh hưởng tới chính sách tiền tệ nhà nước nên cần bổ sung các nguyên tắc để NHNN xử lý vấn đề này.

Nhận thấy rõ tác động tiêu cực của việc huy động và cho vay bằng vàng lớn hơn hẳn ích lợi kinh tế thu được từ đó, “vàng hóa” (và cả “đô la hóa”) không chỉ làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ tín dụng, giảm niềm tin vào đồng nội tệ, gây khó khăn cho thực hiện chính sách quản lý ngoại hối và chính sách tỷ giá hối đoái, góp phần tạo ra bất ổn kinh tế vĩ mô, mà còn làm cho các TCTD phải đối mặt với những rủi ro không nhỏ nên NHNN đã chủ động và cương quyết tiến hành chống “vàng hóa”, trước nhất là trong hệ thống tài chính chính thức.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét