Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Linh hoạt kỳ lạ trong điều hành chính sách tiền tệ.

Vì vậy, liên tiếp trong năm 2011 và 2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng hằng năm đã giảm từ trên 30% xuống còn hơn 10%

Linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ

Làm thủ tục vay vốn tại nhà băng thương nghiệp cổ phần Phát triển Nhà TP Hồ Chí Minh (HD Bank).

Có thể nói, NHNN là cơ quan trước hết khởi động chương trình tái cơ cấu ngay từ cuối năm 2011 với trường hợp của SCB. Chính sự hỗ trợ tương tác giữa các chính sách lãi suất, tỷ giá với chính sách quản lý dự trữ ngoại hối và cùng với cam kết của NHNN sẽ đấu duy trì sự ổn định của giá trị đồng Việt Nam so với đồng USD và các ngoại tệ khác trong năm 2013 đã làm cho thị trường ngoại hối, cả thị trường chính thức và phi chính thức, hoạt động ổn định, tránh được các cú sốc.

Tuy nhiên, trong các đích của NHNN thì phải xác định rõ mục tiêu ưu tiên, mục tiêu xuyên suốt hay đích chiến lược. Bắt đầu từ năm 2011 cho đến nửa đầu năm 2012, CSTT điều hành theo hướng tập kết vào chính sách lãi suất, với việc tăng lãi suất và quay trở lại ứng dụng trần lãi suất huy động với đích làm dụng cụ để kiểm soát và kềm chế lạm phát.

Sang năm 2013, sau tám tháng, tín dụng cũng mới tăng gần 6%, trong khi mục tiêu đến cuối năm 2013 là tăng 12%. Linh hoạt là hồn của chính sách tiền tệ   Thực ra vấn đề này cũng đã được nêu rõ trong Luật NHNN, trong đó có ba điểm cần quan hoài, nhiệm vụ thứ nhất là, đảm bảo giá trị của đồng Việt Nam, tức thị gắn với vấn đề lạm phát, tỷ giá hối đoái, thứ hai là, tương trợ cho tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và thứ ba là bảo đảm an toàn hệ thống.

Hơn nữa, những trường hợp ngoại lệ này không chỉ có trong chính sách của NHNN, mà còn có trong chính sách của mỗi NHTM, không phân biệt NHTM quốc gia hay NHTM cổ phần.

Nếu so sánh với tiến trình tái cơ cấu đầu tư công hay tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thì tái cơ cấu các NHTM do NHNN chủ trì đã diễn ra nhanh hơn, đạt được nhiều kết quả rõ ràng và cụ thể hơn hẳn.

Mục tiêu hàng đầu đặt ra cho năm 2013 thậm chí là cả năm 2014 vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó trọng trách của NHNN là duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền, cả giá trị đối nội lẫn đối ngoại. Điểm tiếp theo mà NHNN đã làm được liên hệ đến tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). TS VŨ ĐÌNH ÁNH. Điều này bộc lộ sự đổi thay khá lớn trong tất hệ thống ngân hàng.

Chính sách tín dụng, kể cả đích tăng trưởng tín dụng cũng được NHNN quan hoài chỉ đạo. Trong điều hành tín dụng ngay từ cuối năm 2011, NHNN đã chủ động trong việc đối thoại với các địa phương, với các bộ, ban, ngành, với các doanh nghiệp để tháo gỡ các khó khăn liên tưởng đến tín dụng nhà băng. Cho đến thời điểm bây chừ, khi mà dự báo lạm phát cho cả năm 2013 khoảng 7% thì NHNN cũng đã đưa được trần lãi suất huy động về mức 7%.

Không ít chính sách tiền tệ, tín dụng ưu tiên, tương trợ kịp thời, đúng đối tượng đã phát huy hiệu quả tích cực. Những cam kết, tuyên bố từ những người đứng đầu, người có nghĩa vụ NHNN ngày một được từng lớp quan tâm, tạo được sự tin cẩn, đồng thuận của xã hội.

Không ít chính sách tiền tệ ưu tiên, hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng đã phát huy hiệu quả tích cực. Rõ ràng trong thời gian vừa qua, tính linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đã có bước tiến đáng kể.

Mặc dù Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) cũng chỉ mới vừa thành lập nhưng NHNN đã khai triển nhiều biện pháp khuyến khích, thậm chí thúc ép các NHTM tự xử lý nợ xấu, theo đó, đến nay các NHTM đã tự xử lý được hơn 85 nghìn tỷ đồng nợ xấu.

Chắc chắn khi các biện pháp xử lý nợ xấu khác, chả hạn như hoạt động của VAMC được thực hiện thì tiến trình xử lý nợ xấu sẽ được đẩy nhanh, mạnh và hiệu quả hơn. Xét về tổng thể, uy tín của hệ thống ngân hàng ngày một được nâng cao. Từ đầu năm 2011, sau khi tỷ giá USD/VND được điều chỉnh tăng 9,3%, NHNN đã duy trì tỷ giá hối đoái khá ổn định và thậm chí là không đổi thay trong cả năm 2012 và đến tận giữa năm 2013 mới có sự điều chỉnh tỷ giá ở mức 1%.

Ảnh: THANH XUÂN        Điều này miêu tả tính linh hoạt chung của chính sách tiền tệ nhưng mang nét đặc thù "rất Việt Nam". Tương tự như chính sách lãi suất, NHNN dùng chính sách tín dụng như một dụng cụ hữu hiệu để kìm giữ lạm phát. Tuy quá trình đó vẫn còn một số vướng mắc, phức tạp, nhưng dù sao cũng đã đi đúng hướng và gắn bó chặt với chương trình xử lý nợ xấu.

Việc điều chỉnh lãi suất bám sát biến động của lạm phát, vừa bảo đảm nguyên tắc lãi suất thực dương, đảm bảo tổng vốn huy động tiếp chuyện tăng, vừa điều chỉnh hành vi của các đối tượng có liên hệ đến hệ thống ngân hàng, kể cả từ phía người gửi cũng như khách hàng đi vay.

Mục tiêu 12% có thể không đạt được, nhưng thay vì tăng số lượng, quy mô, tín dụng sẽ hướng vào chất lượng, hiệu quả, nâng cao mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống. Có thể nói đây là mức lãi suất hợp lý, ăn nhập với các điều kiện vĩ mô và vi mô.

Vấn đề đặt ra là chính tăng trưởng tín dụng quá nóng với các điều kiện tín dụng được nới lỏng quá mức là những nguyên nhân trực tiếp gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô và lạm phát cao những năm 2007-2008 và năm 2010-2011.

Điều này đã góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được sức mua đối ngoại của đồng Việt Nam, trong bối cảnh sức mua đối nội cũng đã được khôi phục. Đây là đặc điểm mô tả tính linh hoạt chung của chính sách tiền tệ nhưng mang nét đặc thù "rất Việt Nam". Khi mặt bằng lãi suất cho vay ở mức cao do lạm phát và lãi suất huy động đều cao, thì NHNN đã có các chính sách hăng hái như chính sách ưu đãi về lãi suất, ưu đãi về nguồn vốn tín dụng và trong một chừng đỗi một mực có sự ưu đãi về điều kiện tín dụng cho các ngành, lĩnh vực cần ưu tiên, tương trợ.

Cùng với điều chỉnh lãi suất đối với VND, việc điều chỉnh lãi suất huy động bằng USD được thực hành đồng bộ, gắn với các đích về chống đô-la hóa và quản lý ngoại hối. Phê duyệt đó, NHNN đã phối hợp hài hòa chính sách lãi suất với chính sách tỷ giá. Chính sách lãi suất tuân nguyên tắc lãi suất thực dương đã kết hợp với chính sách tín dụng nhằm đưa mức tăng trưởng tín dụng về mức hợp lý, gắn việc tăng tổng tín dụng với việc tăng hiệu quả dùng vốn, đảm bảo an toàn hệ thống cũng như việc dùng vốn tín dụng hợp lý của bản thân các khách hàng.

Những điểm sáng trong điều hành chính sách tiền tệ  Từ năm 2011 đến nay, thành công nổi trội nhất của chính sách tiền tệ (CSTT) chính là chính sách lãi suất (LS).

Rõ ràng các nhiệm vụ này đều thuộc chức năng của NHNN nên không có sự mâu thuẫn ở đây. NHNN đã góp sức đáng kể trong thành tích về xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua phê chuẩn chính sách hỗ trợ lãi suất, tương trợ điều kiện tín dụng cũng như ổn định tỷ giá hối đoái. Từ đó đến nay, NHNN đã cơ bản xử lý xong tái cơ cấu cho chín nhà băng thương nghiệp (NHTM) thuộc đối tượng trong danh sách phải tái cơ cấu.

Chính sách lớn thứ hai mà NHNN làm được trong thời gian qua là chính sách tỷ giá hối đoái. Mặt khác, hướng dòng vốn tín dụng vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy mô nợ xấu đã giảm mạnh từ mức 8 đến 10% tổng dư nợ tín dụng trong năm 2012 xuống còn dưới 5% trong báo cáo gần đây nhất, chứng tỏ NHNN đã tiến một bước rất dài trong vấn đề xử lý nợ xấu.

Một mặt, NHNN bền chí chủ trương hạn chế và thu hẹp bớt nguồn tín dụng dành cho các thị trường "nóng", chứa đựng nhiều rủi ro như thị trường chứng khoán, bất động sản,. Nửa sau năm 2012, khi lạm phát tính theo năm có dấu hiệu chững lại và đi xuống thì ngân hàng nhà nước (NHNN) liên tiếp điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm dần.

Trên nền móng của ổn định và kiềm chế lạm phát thường ngày có những cái giá phải trả can dự đến hoạt động của các doanh nghiệp, các khách hàng của nhà băng, chẳng hạn chính sách tiền tệ thắt chặt để ổn định kinh tế vĩ mô có thể phải trả giá bằng giải thể hay phá sản của một bộ phận doanh nghiệp, nên trong một chừng đỗi nhất thiết, tính linh hoạt của chính sách tiền tệ mô tả ở kiên định thắt chặt để thực hiện mục tiêu chính của mình nhưng vẫn linh hoạt trong quyết định chừng độ, liều lượng và thời khắc, vận hạn thắt chặt.

Mục tiêu lớn nhất vẫn là ổn định giá trị đồng tiền và phê chuẩn đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kìm nén lạm phát. Ở Việt Nam có một đặc điểm rất năng bên cạnh chính sách thắt chặt hay nới lỏng chung lại có một số ngoại lệ, thậm chí biệt lệ cho một số khu vực cần ưu tiên, ưu đãi.

Do đó, bít tất chính sách tiền tệ, tín dụng mà NHNN đã hoạch định và bản thân các NHTM khi thực thi đều phải tụ hội vào các nhiệm vụ chủ yếu liên can đến vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét